Monday, October 7, 2013

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 12: Giữa cõi đời hư đặc biệt thực.

Vì có lẽ, đối với ông, còn có gì đâu để cãi vã, khi mà mọi lẽ đời ngược xuôi ỡm ờ đã được ông tự đặt mình vào những cảnh huống đối chọi ứng khác nhau, và rồi, ông đã mổ xẻ quá đầy đủ qua những tác phẩm kiệt xuất của ông

Chuyện đời Bùi Giáng - Kỳ 12: Giữa cõi đời hư thực

Trong thế giới tâm linh - trực quan thiên khải đó và thế cục “vật dục - trần gian” u mê này, ông đã đi về như một “tự do cá nhân”, không một vết xước nhân quyền.

Mang theo nỗi lòng “trường mộng” trong những chuyến “luân hồi” ấy, ông bước ra đường phố, say sưa cười nói, múa may, khó có ai hiểu ông muốn gì. Bùi Giáng đang mua chim phóng sinh trước Lăng ông Lê Văn Duyệt - Ảnh: Gia đình cung cấp Có tờ lấm tấm những vết loang nhỏ, có nhẽ do ông ngồi viết say sưa lặng lẽ ngoài trời, dưới bóng cây mít, hoặc tàng vú sữa trên sân nhà còn đọng nước mưa giọt xuống.

Thơ đã xuất bản khi ông còn sống, so với thơ trong bản thảo chưa in, thường cùng nhắc về một “nơi chốn” ở kiếp nào đó ông đã sinh ra: “Đi về một bữa hôm nay/Nhớ ngàn xưa đã về đây một lần”. - Câu gì vậy? -  Con chim ca hót thơ ngây/Con người nói ít mà gây sự nhiều.

Lúc ông chửi bới này kia khiến có người ngỡ lầm là ông chửi họ, nên nổi sân si, xúc phạm, đánh ông bị thương phải vào bệnh viện như một tay bán hủ tiếu nọ.

Nhưng ông không là một giáo chủ… mà là một thi sĩ đã nắm được quyền lực: quyền lực thi ca. Một số trong bản thảo trên đã xuất bản sau ngày ông chết thật, số khác vẫn chưa có dịp in. Đặng Ngọc Như  - Nhiều, nhưng tôi nhớ và thường nhắc đến hai câu thơ của bác Giáng viết về tiếng hót của loài chim mà tôi hay đọc cho bạn bè nghe mỗi lần thấy họ cãi vã, to tiếng nhau.

Nhìn thấy một vết bầm tím đỏ bất thường trên trán ông, tôi hốt hoảng y như nhìn thấy người huynh đệ quyến thuộc của mình bị nạn, tôi thảng thốt kêu lên: Anh Bùi Giáng!” (Bùi Giáng - Lời không tiếng).

Ông không cho cái chết là chấm hết: “Mai sau hẹn với ban đầu/Chờ nhau ngỏ khác ngó màu nguyên xuân”. Đọc di cảo ấy, thấy Bùi Giáng đã viết không ít về thế giới “thực” và “hư” này, với những chữ “mộng” triền miên xuất hiện ở những dòng thơ cuối… Như chút tình ông muốn trao cho ai ông cũng thấy nó là lạ mỏng manh ảo ảnh thế nào: “Anh trao em từ mật niệm thiên thai/Một tặng phẩm lạ thường hư hay thiệt?”.

Ông già mang một cặp kính trắng dày cộm, mái tóc bạc lù xù, vài lọn tóc dài nghiêng xuống vầng trán rộng. Không chỉ “kể”, Nguyễn Quang Thanh còn có lời bình được nhiều người ý hợp tâm đầu: “Nói cãi vã, nhưng thật ra, chắc là, ông chẳng định ý bàn cãi cãi vã với ai.

Cả tên của ông nữa, ông cũng muốn kẻ khác hãy“quên đi” lời đã gọi bấy lâu: “Thấy anh em chợt nhớ rằng/Anh từ tộc Giáng đổi tên họ Bùi”.

Tôi tiến tới gần, ép chiếc xe đạp của mình sát vào đám đông. Chúng tôi hỏi anh Thanh Hoài là, anh đã đọc tuốt tuột, vậy anh nhớ nhất những bài nào, câu nào? Bùi Giáng là một trong những thi sĩ thuộc loại hiếm của gia tài thi ca dân tộc, đã chạm được một tay vào chính cái chỗ ta vẫn thường nói khi bàn thảo về đạo, đó là quyền năng.

Một bài với tựa nghe khá vui: “hò hét!”, lại có một dòng buồn len xuống: “tình người có nhẽ như tình chiêm bao”. Thường khi đọc câu ấy xong các bạn của tôi lặng im, cười, giảm bớt nóng giận đi. Tận mắt chứng kiến một cảnh hao hao giữa phố, nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Thanh ghi lại: “Khoảng mươi người hiếu kỳ, và vài người trai tráng bặm trợn, đang hung hăng hò hét rầm rĩ, chỉ chỏ sừng sộ vào một ông già lạ thường đang đứng ở giữa.

Có vẻ như ông già vừa bị hành hung (…) đám đông thì đích thị chửi mắng thô lỗ ông già bằng tiếng Việt, còn ông già thì vi vu mắng chửi bằng tiếng Pháp, mà đối tượng ông gửi gắm không cố định nhắm vào đám đông cụ thể mà ông đang đối diện.

Người ta giục ông viết đơn kiện, nhưng ông lắc đầu nói hãy tha cho nó, vì “nếu mà kiện không chừng công an sẽ bắt nó lấy ai nuôi con nó, rồi lỡ nó ngồi tù nữa thì lấy ai bán hủ tiếu cho bà con ăn”.

(  Còn nữa  )  Giao Hưởng. Ông đã tự hội thoại, tự bàn cãi, tự đặt tâm hồn và thể xác mình vào những vị trí và vai trò khác nhau của cõi đời hư thực, trụ vào những vị trí khác nhau, trụ vào những vị trí không vị trí, trụ vô sở trụ, để cười, để khóc, để suy tư, để chiêm nghiệm, để sáng tạo, một cõi sáng tạo vừa xa vừa gần với cõi xứ mà những hào kiệt kim cổ thường hội ngộ”.

Cả tự nhiên, suối ngàn, cây cỏ, mưa gió trong thơ ông cũng “đầu thai” nhiều bận như ông: “Ra đi gió định trở về/Ngày sau mây hẹn trả khe đầu ngàn”.

No comments:

Post a Comment